Hiểu hơn về Tâm linh và tâm lý – Sách Tâm phân học và tôn giáo của Erich Fromm
Psychoanalysis and Religion (Tâm phân học và Tôn giáo) của Erich Fromm được xuất bản năm 1950, trong đó ông phân tích mối quan hệ giữa tâm phân học, tôn giáo và nhu cầu tâm lý của con người.
Sách được Ni sư Trí Hải thuộc Ban Tu thư Vạn Hạnh dịch năm 1968. Nhiều cụm từ ngày nay ít dùng hoặc gây khó chịu cho những người đọc khi học đúng chuyên ngành Tâm lý. Ví dụ: Thay vì dịch “con bệnh” nên dùng “thân chủ/ bệnh nhân”, “tâm phân học” ngày nay được dùng nhiều và phổ biến là “phân tâm học”

Fromm lập luận rằng con người có nhu cầu sâu sắc về một hệ thống ý nghĩa giúp họ định hướng trong cuộc sống. Tôn giáo, theo ông, không chỉ giới hạn ở tín ngưỡng thần thánh mà bao gồm mọi hệ thống tư tưởng mang lại định hướng và mục đích sống. Ông nói: “Tôi không muốn người ta nghĩ rằng ta phải lựa chọn giữa sự thích nghi xã hội và sự lo lắng cho tâm hồn, và rằng việc chọn lựa con đường tiến đến nguyên tính của con người nhất thiết phải dẫn dắt ta đi vào sa mạc của thất bại về phương diện xã hội”
Những luận điểm chính của Fromm:
- Về tôn giáo
Oxford Dictionary: Tôn giáo là sự nhận chân của con người về thứ quyền năng vô hình cao hơn con người, thứ quyền năng như có quyền chế ngự vận mệnh của y, và có thể được tuân phục, sùng kính và thờ phụng
Erich Fromm chia thành 2 loại tôn giáo:
o Tôn giáo độc đoán (Authoritarian Religion): Dựa trên sự phục tùng và sợ hãi quyền lực tối cao, làm con người mất tự do và sáng tạo. Tôn giáo độc đoán/ thần quyền nghiên về sự tuân phục, sùng kính và thờ tự. Đức tính chính yếu của loại tôn giáo này là sự tuân phục, tội lỗi trọng đại lớn nhất là sự bất tuân.
o Tôn giáo nhân văn (Humanistic Religion): Khuyến khích sự phát triển cá nhân, tình yêu và lý trí, giúp con người đạt đến tiềm năng của mình. Tình yêu đối với Thượng Đế trong tôn giáo nhân văn đầy nhân tính, đó là khả năng con người yêu thương nhau một cách sáng tạo, yêu mà không có sự thèm muốn, không có sự phục tùng và chế ngự, yêu trong sự toàn vẹn của nhân cách mình.
- Tâm phân học và nhu cầu tôn giáo
o Con người có nhu cầu vượt qua sự cô đơn và tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống.
o Nếu không có một hệ thống đạo đức lành mạnh, con người dễ rơi vào sự sùng bái quyền lực hoặc chủ nghĩa vật chất.
- Phê phán Freud và Jung
o Freud coi tôn giáo là một dạng ảo tưởng bắt nguồn từ nhu cầu tâm lý, nhưng Fromm cho rằng nó còn có thể là một nguồn động lực tích cực nếu khuyến khích sự phát triển con người. “Freud cho rằng mục đích của sự phát triển con người là hoàn thành những lý tưởng: kiến thức (lý trí, chân lý, logos), tình thường, giảm thiểu khổ đau, tự chủ và trách nhiệm” (Trang 42)
o Jung nhấn mạnh đến vô thức tập thể, nhưng Fromm lo ngại điều này có thể dẫn đến sự chấp nhận mù quáng các khuôn mẫu truyền thống.
- Tâm linh không nhất thiết phải gắn với thần học
o Fromm cho rằng một số hình thức tôn giáo nhân văn, như Phật giáo hay truyền thống đạo đức phương Đông, có thể giúp con người phát triển mà không cần đến sự áp đặt của một thần quyền.
Tờ tạp chí New York Times đã viết: “Một cuốn sách táo bạo được tung ra giữa sự náo động của thế giới, vì chính nó sẽ tạo ra những sự náo động mới. . . . Đây không phải là cuốn sách mà những ai quan tâm đến sự phát triển tâm linh của con người nên bỏ qua.”
Những trích dẫn ấn tượng từ sách
- Thật dễ thấy rằng nhiều người tự tuyên xưng niềm tin vào Thượng Đế, mà trong thái độ nhân văn, họ lại chính là những kẻ thờ phụng thần tượng hoặc là những con người không có đức tin, trong khi vài người “vô thần” hăng hái nhất lại là nhwxung người hiến đời mình cho sự cải thiện nhân loại, cho những việc làm của tình huynh đệ và lòng yêu thương, và như thế họ đã tỏ ra có đức tin và một thái độ tôn giáo vô cùng sâu sắc.
- Tôn giáo có thể là thuốc độc hoặc thuốc chữa lành – tùy thuộc vào việc nó có giúp con người tự do hay giam cầm họ.
- Mọi hệ thống tư tưởng, dù mang màu sắc thế tục hay tôn giáo, đều có thể trở thành một dạng tôn giáo khi nó mang lại ý nghĩa và sự định hướng cho con người.
- Tôn giáo không nên là một công cụ trấn áp con người, mà phải là một phương tiện để giúp họ phát triển nhân cách toàn diện.
- Vấn đề không phải là có tin vào Chúa hay không, mà là liệu niềm tin đó có giúp con người trở nên yêu thương, sáng tạo và nhân văn hơn hay không.
- Sự trưởng thành tinh thần không nằm ở việc vâng lời một quyền lực siêu nhiên, mà ở khả năng tự nhận thức và tự dẫn dắt cuộc sống của chính mình.
Những suy tư cá nhân
Dù có tôn giáo hay không có, dù thấp hèn hay cao quý chúng ta nên sống một đời đạo đức, yêu thương người khác và nỗ lực học để tự mình vươn lên trong đời sống ngày nay.
(1) Không dính mắc, không rời xa. Có tôn giáo là cách để chúng ta đưa mình vào con đường đạo đức, sống đời tâm linh, an yên về mặt tinh thần. nhưng đừng quá dựa dẫm để tin mù quáng hoặc giáo hội/ tín đồ của tôn giáo luôn ở khía cạnh con người nên chúng ta hiểu, thương và biết để tự do trong đường kẻ của người có tôn giáo
(2) Biết từ chối, biết có mặt đúng thời điểm. Cái điều vướng mắc của nhiều người có lẽ là tuân phục, thường thi trong tổ chức giáo hội, việc phụng sự nhân loại, giúp người khó khăn, dìu dắt người yếu thế là điều nên làm để tạo công lập phước. Nhưng xuất hiện quá nhiều hoặc không biết từ chối, không biết dành thời gian cho mình mà vì cả nể để làm điều không thích là điều không nên.
(3) Biết giá trị của mình “Sự xuất hiện của mình làm tăng thêm giá trị của cộng đồng mình đang sinh hoạt”
(4) Xóa bỏ dần tâm phân biệt: giữa những tôn giáo khác nhau, cộng đồng khác nhau phân cách bởi lề luật, hình thức khác nhau. Nhưng nếu biết tìm mẫu số chung để hướng tới, tìm cái tử tế để nói theo thì sẽ xóa dần tâm phân biệt này, nọ, đó, kia…
“PHỤNG SỰ NHÂN LOẠI LÀ PHỤNG SỰ THƯỢNG ĐẾ”
#Khainguyen #Sách_Khai_Nguyên #Phân_Tâm_học #Tâm_phân_học

