“Điều mà người thông minh nên biết” được trích lượt từ cuốn “Sự an ủi của triết học” – Alain Botton, tác giả đưa ra quan điểm và nói về cuộc đời của Montaigne.
Điều mà người thông minh nên biết
Họ nên biết các dữ kiện, nếu họ không biết, và thêm vào đó, nếu ngốc nghếch đến mức học được chúng từ sách nhưng học sai, thì họ không nên trông chờ vào sự thương hại của các học giả, những người có lý do để vả vào mặt họ, và với phép lịch sự mang vẻ khinh khỉnh, sẽ chỉ ra rằng ngày đó là sai hoặc từ đó bị trích dẫn nhầm, một đoạn bị lấy ra khỏi văn cảnh hay một nguồn quan trọng đã bị bỏ quên.
Tuy nhiên, trong giản đồ của Montaigne về trí thông minh thì điều quan trọng ở một cuốn sách là tính hữu dụng và sự phù hợp của nó với cuộc sống. Nếu cuốn sách chuyển tải một cách chính xác những gì Plato viết hay Epicurus nói thì nó vẫn ít giá trị hơn khi nó chỉ được ra rằng điều họ nói có thú vị không và có thể giúp chúng ta vượt qua sự lo âu hay cô đơn hay không. Trách nhiệm của tác giả trong lĩnh vực khoa học nhân văn không phải trách nhiệm đối với tính chính xác của cái tựa như khoa học, mà là với hạnh phúc và sức khỏe. Montaigne trút sự bực dọc lên những người từ chối không chịu nhìn ra điểm này:
Những học giả mà mối quan tâm là buông lời nhận xét về những cuốn sách không hề nhận ra chút giá trị nào của chúng ngoài kiến thức và không dành chỗ cho bất kỳ hoạt động trí tuệ nào ngoài học tập và trau dồi sự uyên bác. Lẽ nào nếu nhầm một Scipio này với một Scipio khác thì anh không còn điều gì để nói nữa! Theo họ, không hiểu Aristotle nghĩa là không hiểu bản thân mình.
Chính cuốn Tiểu luận cũng mắc nhiều lỗi trích dẫn sai, quy kết sai, lập luận bị chệch hướng thiếu logic và không định nghĩa thuật ngữ. Nhưng tác giả không quan tâm:
Tôi viết sách tại nhà, ở vùng quê, nơi không ai giúp hoặc sửa lỗi cho tôi, nơi tôi thường không gặp mấy người biết thậm chí cả Bài cầu nguyện chung bằng tiếng Latin chứ chưa nói đến tiếng Pháp chuẩn.
Đương nhiên là cuốn sách có lỗi (“Tôi đầy lỗi lầm”, ông khoe), nhưng những lỗi này không đủ để hạ bệ Tiểu luận, cũng như sự chính xác không đủ đảm bảo cho giá trị của nó. Viết ra một thứ mà không nỗ lực hướng tới sự thông thái là tội lớn hơn so với việc nhầm lẫn giữa Scipio Aemilianus (185-129 tr.CN) và Scipio Africanus (236-183 tr.CN).
Người thông minh nên tìm ý tưởng từ đâu?
Từ người thông minh hơn. Họ nên dành thời gian trích dẫn và bình luận về những nhân vật ngự trên tầng cao của cây tri thức. Họ nên viết chuyên luận về tư tưởng đạo đức của Plato hay luân lý của Cicero.
Montaigne học được nhiều điều từ họ. Trong Tiểu luận, ta thường xuyên bắt gặp những đoạn bình luận và hàng trăm câu trích dẫn từ các tác giả mà Montaigne cho rằng nắm bắt những luận điểm đó một cách tinh tế và chuẩn xác hơn mình. Ông trích dẫn Plato 128 lần, Lucretius 149 lần và Seneca 130 lần.
Thật khó cưỡng lại việc trích dẫn các tác giả khi họ thể hiện suy nghĩ của chính bản thân ta nhưng với sự rõ ràng và chính xác về tâm lý mà ta không thể sánh được. Họ hiểu rõ ta hơn ta hiểu bản thân mình. Điều mà ta thấy xấu hổ và bối rối, họ viết ra một cách súc tích và tao nhã, ta gạch chân và ghi chú bên lề những trang sách của họ và những gì ta trích dẫn cho thấy nơi ta tìm ra một phần con người mình, một hoặc hai câu đã xây nên chính cái chất liệu làm ra trí óc ta – sự so sánh càng nổi bật nếu như tác phẩm đó được viết trong thời đại của những áo choàng toga và lễ hiến tế động vật. Chúng ta đưa những ý, những lời đó vào sách của mình như là một cách bày tỏ lòng kính trọng vì họ đã giúp nhắc nhở rằng ta là ai.
Nhưng thay vì soi sáng trải nghiệm của ta và thúc giục ta tự tìm ra những khám phá của riêng mình thì những quyển sách vĩ đại có thể phủ lên ta cái bóng mơ hồ. Chúng có thể khiến ta chối bỏ những khía cạnh của bản thân mình mà chưa từng có bằng chứng trong sách vở. Thay vì mở rộng chân trời, chúng có thể đánh dấu những giới hạn một cách sai lầm. Montaigne biết một người dường như đã để sự tầm chương trích cú của mình đi quá xa:
Mỗi khi tôi bảo người quen [này] của mình hãy nói tôi nghe anh ta biết gì về một vấn đề nào đó thì anh ta đều đưa cho tôi một cuốn sách: anh ta không dám nói với tôi rằng mình bị ghẻ ở mông mà chưa tra từ điển từ ghẻ và từ mông.
Sự do dự không tin vào chính kinh nghiệm bản thân bên ngoài sách vở có thể không đáng giận nếu như chúng ta có thể dựa vào sách vở để bộc lộ toàn bộ tiềm năng của mình, nếu sách vở biết hết về bệnh ghẻ của ta. Nhưng Montaigne nhận ra rằng những quyển sách vĩ đại nhất giữ im lặng trước quá nhiều chủ đề, vì vậy nếu ta cho phép chúng xác định đường ranh giới cho trí tò mò của mình thì chúng sẽ kìm hãm sự phát triển trí tuệ của ta. Một cuộc gặp gỡ ở Italy đã thể hiện rõ nét vấn đề này:
Ở Pisa tôi gặp một người đàn ông tử tế, ông là người theo trường phái triết học Aristotle tận tụy đến mức điều cơ bản nhất trong các học thuyết của ông là tiêu chuẩn và thước đo của mọi ý tưởng đúng đắn phải phù hợp với lời dạy của Aristotle, ngoài ra, những thứ còn lại đều vô nghĩa và ảo tưởng: Aristotle đã thấy mọi thứ, làm mọi thứ.
Đúng là Aristotle đã làm và nhìn thấy nhiều thứ. Trong số các nhà tư tưởng cổ đại, Aristotle có lẽ là người toàn diện nhất, các tác phẩm của ông trải dài trên các lĩnh vực của tri thức Về sự phát sinh và biến chất, Về các thiên đường, Khí tượng học, Về linh hồn, Về Cơ thể Sinh vật, Về Cử động của Sinh vật, Sự Phản bác Ngụy biện, Đạo đức học của Nichomachus, Vật lý học, Chính trị luận.
Nhưng chính cái thước đo thành tựu của Aristotle đã để lại một di sản rất có vấn đề. Có những tác giả quá giỏi đối với ta. Vì đã nói quá nhiều nên dường như họ có tiếng nói cuối cùng đối với chủ đề đó. Tài năng thiên phú của họ kìm hãm sự bất kính cần thiết trong công việc sáng tạo ở những người kế thừa. Thật là một nghịch lý khi Aristotle có lẽ lại đang cản trở những người sủng kính ông nhất đi theo con đường của ông. Aristotle chỉ trở nên vĩ đại vì ông đã nghi ngờ phần lớn khối kiến thức từng được xây dựng nên trước đó, không phải bằng việc từ chối đọc Plato hay Heraclitus mà bằng việc phê bình những điểm yếu của họ dựa trên sự ghi nhận những điểm mạnh. Để hành động theo một tinh thần Aristotle đích thực, điều mà Montaigne nhận ra, còn người đàn ông ở Pisa thì không, có lẽ cần phải cho phép một sự giải thoát nào đó về mặt trí tuệ ra khỏi ngay cả những nhân vật vĩ đại nhất.
Tuy nhiên, dễ hiểu là chúng ta thường thích trích dẫn và bình luận hơn là tự nói và tự nghĩ cho mình. Một bài bình sách của người khác, mặc dù là công việc rất nặng nhọc về mặt kỹ thuật, cần đến hàng giờ nghiên cứu và đánh giá, nhưng lại miễn dịch trước những đòn tấn công tàn bạo nhất có thể nhằm vào một tác phẩm nguyên gốc. Các nhà bình luận có thể bị chỉ trích vì không đánh giá đúng ý tưởng của các nhà tư tưởng vĩ đại; bản thân họ không thể bị quy trách nhiệm cho những ý tưởng đó – đó là lý do vì sao Montaigne trích dẫn và bình luận nhiều trong Tiểu luận:
Đôi khi tôi để người khác nói điều mà tôi không thể nói hay bằng họ do sự yếu kém về ngôn ngữ của tôi, và đôi khi do sự yếu kém về trí tuệ của tôi… [và] đôi khi… để kiềm chế sự táo bạo của những lời chỉ trích vội vàng chỉ chực nhảy xổ ra để tấn công tất cả mọi thứ được viết ra thuộc mọi thể loại, nhất là những thứ viết ra bởi những người hiện vẫn còn sống… Tôi phải giấu điểm yếu của mình bên dưới những cái tên vĩ đại đó.
Mức độ tôn trọng mà mọi người dành cho ta sau khi chết thường cao hơn một cách đáng kinh ngạc so với khi còn sống. Những phát ngôn có thể được chấp nhận nếu chúng chảy ra từ ngòi bút của các tác giả thời cổ đại lại thường bị giễu cợt nếu được thể hiện bởi các tác giả hiện đại. Các nhà bình luận thường không sẵn sàng nghiêng mình trước những tuyên bố vĩ đại của đồng môn của mình ở trường đại học. Những người đó không được phép nói như thể họ là một nhà triết học cổ đại. “Không ai mà không phải trả giá cho việc được sinh ra trên đời,” Seneca viết, nhưng một người ở thời đại sau mà nghĩ tương tự thì sẽ được khuyên không nên nói ra giống như thế trừ phi họ bộc lộ sở thích đặc biệt với việc bị làm bẽ mặt. Montaigne, người không thích bị bẽ mặt, đã tìm nơi trú ẩn, và ở phần cuối của Tiểu luận, đã thú nhận một điều rất cảm động vì tính dễ tổn thương của nó:
Nếu tôi có tự tin để làm điều tôi thực sự muốn thì tôi sẽ hoàn toàn tự nói cho mình, dù cho điều gì xảy ra đi nữa.
Nếu Montaigne thiếu tự tin thì đó là bởi vì khi người ta càng đến gần ông về không gian và thời gian thì những suy nghĩ của ông càng ít được đối xử như thể nó cũng có giá trị như của Seneca hay Plato:
Ở Gascony, mọi người buồn cười khi thấy tôi trên sách vở. Nơi mà tên tôi được biết đến càng xa nhà tôi thì ở đó tôi càng được đánh giá cao.
Trong cách cư xử của gia đình và gia nhân, những người nghe thấy ông ngáy hoặc thay ga giường cho ông, không hề có sự tôn kính giống như cách người ta đối xử với ông ở Paris, chứ chưa nói đến sau khi ông chết:
Đối với thế giới thì một người có thể là phi thường; nhưng vợ và người hầu thì chẳng nhìn thấy điều gì kỳ diệu về ông ta. Ít người đàn ông lại là điều kỳ diệu với chính gia đình mình.
Chúng ta có thể hiểu điều này theo hai cách: không ai thực sự phi thường, chỉ có gia đình và người hầu đủ gần gũi để nhận ra sự thật đáng thất vọng. Hoặc nhiều người thú vị nhưng nếu họ quá gần chúng ta về tuổi tác và không gian thì ta thường không quá coi trọng họ vì một khuynh hướng lạ lùng là chống đối những gì trong tầm tay.
Không phải Montaigne đang tự thương thân; thay vào đó, ông đang chỉ ra rằng những lời chỉ trích nhằm vào các tác phẩm hiện đại tham vọng là triệu chứng của sự thôi thúc độc hại khi nghĩ rằng chân lý luôn nằm xa chúng ta, ở một miền khác, trong một thư viện cổ, trong các cuốn sách của những người sống từ thời xa xưa. Vấn đề nằm ở chỗ liệu sự tiếp cận những điều thực sự có giá trị chỉ giới hạn ở một vài thiên tài ra đời trong khoảng thời gian từ khi điện Parthenon được xây dựng đến khi Rome sụp đổ, hay, như Montaigne dũng cảm đề xuất, có thể mở ra cho cả tôi và bạn.
Một nguồn minh triết rất kỳ lạ đã được chỉ ra, còn kỳ lạ hơn cả con lợn đi biển của Pyrrho, một thổ dân Tupi hay một thợ cày xứ Gascony: đó là độc giả. Nếu chúng ta chú ý một cách nghiêm túc đến trải nghiệm của bản thân và học cách coi mình là ứng cử viên có khả năng tham gia đời sống trí tuệ, thì như Montaigne nói, chúng ta có thể đạt được hiểu biết không kém phần sâu sắc so với điều mà ta tìm thấy trong các cuốn sách vĩ đại từ thời cổ đại đó.
Ý nghĩ này không hề dễ dàng. Chúng ta được giáo dục phải gắn phẩm chất với sự phục tùng uy quyền của sách vở, thay vì khám phá những cuốn sách đang hằng ngày cuộn chảy trong ta nhờ bộ máy tri giác. Montaigne cố gắng đưa chúng ta trở lại với chính mình:
Chúng ta biết cách nói, “Đây là điều Cicero nói”; “Đây là đạo đức của Plato”; “Đây là ipsissima verba(1) của Aristotle.” Nhưng điều mà chúng ta phải nói là gì? Chúng ta đưa ra nhận xét gì? Chúng ta đang làm gì? Một con vẹt cũng nói được như chúng ta.
Nhắc lại như con vẹt không phải là cách mà học giả mô tả việc viết một bài bình luận. Một loạt lập luận có thể cho thấy giá trị của việc viết một bài bình luận về tư tưởng đạo đức của Plato hay luân lý học của Cicero. Thay vào đó, Montaigne nhấn mạnh sự hèn nhát và chán ngắt của hành động này. Nghiên cứu thứ cấp không cần đến nhiều kỹ năng (“Sáng tạo phải được ưu tiên hơn nhiều so với trích dẫn”), khó khăn chỉ mang tính kỹ thuật, chỉ cần có lòng kiên trì và một thư viện yên tĩnh. Hơn nữa, nhiều cuốn sách mà nền giáo dục truyền thống khuyến khích chúng ta nhại theo chính bản thân chúng cũng không có gì hấp dẫn. Chúng chiếm vị trí trung tâm trong giáo án chẳng qua là vì chúng là tác phẩm của các tác giả danh tiếng, trong khi nhiều chủ đề đáng nghiên cứu như thế hoặc thậm chí hơn thế lại mờ nhạt bởi vì không có nhân vật tên tuổi nào từng lý giải chúng. Mối quan hệ giữa nghệ thuật và thực tế từ lâu đã được coi là một chủ đề triết học nghiêm túc, một phần vì Plato là người đầu tiên nêu ra; mối quan hệ giữa sự xấu hổ với vẻ bề ngoài thì chưa, một phần vì nó không thu hút sự chú ý của bất kỳ nhà triết học cổ đại nào.
Vì sự tôn trọng truyền thống một cách trái tự nhiên này, Montaigne cho rằng đáng để thú nhận với độc giả rằng thực ra ông nghĩ Plato có thể bị hạn chế về trí tuệ và ngu ngốc:
Liệu sự phóng khoáng của thời đại chúng ta có thứ lỗi cho tôi vì sự báng bổ càn rỡ khi nghĩ rằng bộ Đối thoại [của ông ấy] cứ lải nhải nhiều quá hóa ra lại bóp chết vấn đề mà ông ấy muốn nói, và khi tôi thấy đau khổ vì một con người có bao nhiêu điều đáng nói hơn lại đi dành chừng ấy thời gian cho những tranh luận dài và vô dụng?
(Ta thấy nhẹ lòng hơn khi nghĩ về Montaigne, một tác giả danh tiếng lại tin vào sự nghi ngờ bẽn lẽn và lặng lẽ của người khác.) Với Cicero, thậm chí ông còn không cần xin lỗi khi tấn công:
Phần giới thiệu, định nghĩa, đề mục và từ nguyên học đã chiếm phần lớn tác phẩm của ông… Nếu tôi dành một giờ để đọc Cicero (với tôi là nhiều) và nghĩ lại xem mình rút ra được điều gì hay nội dung cốt yếu nào thì phần lớn thời gian tôi chẳng tìm thấy gì ngoài những lời rỗng tuếch.
Theo Montaigne, giới học giả quan tâm đến các tác phẩm kinh điển do mong muốn tự mãn được người khác cho là có trí tuệ bằng việc gắn tên mình với những tên tuổi danh tiếng.
Kết quả dành cho công chúng là một núi sách được đọc rất nhiều, rất không thông thái:
Có nhiều sách viết về sách hơn là về bất kỳ chủ đề nào khác: tất cả những gì chúng ta làm là bới lông tìm vết lẫn nhau. Tất cả chỉ là một bầy bình luận gia còn tác giả thì hiếm hoi.
Nhưng Montaigne nhấn mạnh rằng các ý tưởng thú vị có thể được tìm thấy trong mọi cuộc đời. Dù câu chuyện của chúng ta có khiêm tốn thế nào thì ta cũng có thể rút ra nhiều hiểu biết sâu sắc từ chính bản thân mình hơn là từ tất cả những quyển sách của quá khứ:
Nếu là một học giả giỏi, tôi sẽ tìm thấy đủ thứ từ kinh nghiệm bản thân để khiến mình trở nên thông thái. Bất kỳ ai nhớ lại cơn bực tức gần đây nhất của mình… đều thấy sự xấu xa của cảm xúc này rõ hơn là ở Aristotle. Bất kỳ ai nhớ lại những bệnh tật mình từng mắc phải, những người từng đe dọa mình và những sự việc vụn vặt đã xô đẩy mình từ hoàn cảnh này sang hoàn cảnh khác, đều có thể tự chuẩn bị sẵn sàng đối mặt với những thay đổi trong tương lai và khám phá hoàn cảnh của mình. Ngay cả cuộc đời của Caesar cũng không phải là tấm gương mẫu mực cho ta hơn chính cuộc đời ta; một cuộc đời dù vương giả hay bình dân vẫn luôn là một cuộc đời chịu tác động của mọi thứ có thể xảy ra với con người.
Chỉ có một nền học thuật hăm dọa mới khiến chúng ta nghĩ khác:
Mỗi người trong số chúng ta đều giàu có hơn mình nghĩ.
Tất cả chúng ta đều có thể nghĩ ra những ý tưởng thông thái nếu dừng nghĩ về bản thân như là những người không phù hợp cho nhiệm vụ này bởi vì ta không sống đến 2000 tuổi, không quan tâm đến những cuộc đối thoại của Plato và sống lặng lẽ ở vùng quê:
Một cuộc đời kín đáo bình thường cũng có thể mang trong nó toàn bộ triết lý đạo đức giống như một cuộc đời giàu có hơn.
#Sự_an_ủi_của_triết_học #Điều_mà_người_thông_minh_nên_biết

