Nhẫn Thạch – Nguyên Ngọc dịch – Atiq Rahimi

nhan_thach-nn001.jpg

“Trong truyền thuyết Ba Tư, có một hòn đá thần được gọi là hòn đá kiên nhẫn, nhẫn thạch. Khi quá đau khổ mà không thổ lộ được với ai, người ta đặt hòn đá đó trước mặt mình và kể lể tất cả với nó. Như một miếng bọt biển, hòn đá sẽ hút lấy tất cả, cho đến khi đầy ứ, nó sẽ nổ tung, và lúc đó con người sẽ được giải thoát” (Atiq Rahimi, 2008). Hòn đá là hiện thân của một thứ tôn giáo tối thượng, có thể giải thoát con người khỏi khổ đau bất hạnh. Trong Nhẫn thạch, hòn đá mà hiện thân là người chồng bị một viên đạn bắn vào gáy và sống đời thực vật trở thành thế giới thần linh nhiệm màu mà người phụ nữ có thể bám víu và khát khao được giải thoát.

Nhân vật phụ nữ trong Nhẫn thạch chất chứa tiếng thở than mang tầm thời đại. Chị càng cố chịu đựng thì lại càng tuyệt vọng và cái khát khao giải tỏa những ẩn ức càng mãnh liệt. Mỗi ngày đối diện với thân xác vô tri của người chồng khiến chị kiệt sức, chị tuyệt vọng. Bên ngoài những cuộc đấu súng giữa các phe phái diễn ra liên miên. Trong nhà, một mình chị đối diện với người chồng vô tri. Gia đình chồng đã bỏ đi, đồng đội của chồng chị cũng không ai bên cạnh, chỉ còn mình chị, mỗi ngày trong vùng chiếm đóng với hai đứa con gái nhỏ. Chị hi vọng anh ta sẽ tỉnh dậy. Nhưng ngày qua ngày, càng hi vọng thì chị càng tuyệt vọng. Có lúc chị ước chồng chết đi để mình được giải thoát. Nhưng khi nghĩ ra chị lại hối hận ngay, chị dằn vặt mình bởi những suy nghĩ đó. “Em có cảm giác em là một con quái vật, một con quỷ cái thật sự. Em kinh hãi. Có phải em đã trở thành một con điên, một kẻ tội phạm?”. Chị đấu tranh với cảm xúc ấy theo từng nhịp thở của chồng. Chỉ khi người chồng nằm im bất động với ống truyền cùng những “giọt nước ngọt – mặn” chị mới được cất lên tiếng nói của mình, được nói cho chồng nghe những điều thầm kín bấy lâu. Chị xem chồng là nhẫn thạch của chị, là hòn đá đen linh thiêng có thể cho chị giải bày tâm sự.

Nhẫn thạch gần như là lời độc thoại về cuộc đời người phụ nữ đầy bất hạnh. Họ không có quyền bộc lộ suy nghĩ của chính mình, không được ý kiến hay đòi hỏi hạnh phúc cá nhân. Xuyên suốt tác phẩm là lời độc thoại của người đàn bà với tiếng cầu kinh rì rầm trong bối cảnh của những vụ nổ súng diễn ra liên miên. Ngay từ nhỏ, nhân vật người đàn bà đã không có tình thương của bố. Không riêng gì chị mà cả những chị em còn lại trong nhà đều như vậy. “Bảy đứa con gái không có tình thương” bởi người bố “ôm hôn lũ chim cút của ông, nhưng không bao giờ hôn mẹ em và bọn em, các con ông”. Không muốn trở thành món hàng cá cược khi bố thua bạc, không muốn bị gả bán sang một gia đình không hề quen biết, chị cố tình để cho con mèo ăn con chim cút với hi vọng người bố sẽ bừng tỉnh nhưng điều chị nhận được là hình phạt nhốt dưới hầm cùng một con mèo hoang. Trong xã hội Afghanistan lúc bấy giờ, đứa bé gái dám chống lại bố mình (dù bố sai) là một đứa bé hư, đứa bé bị “quỷ ám”.

Người phụ nữ trong Nhẫn thạch lấy chồng mười năm nhưng thực chất chị chỉ sống với chồng vỏn vẹn ba năm. Sau ngày hỏi cưới một năm, gia đình nhà chồng quyết định làm lễ cưới mà không cần có chú rể, thay vào đó là một tấm hình và một chiếc dao găm. Kể từ đó, người con gái phải chuyển sang ở nhà chồng để mẹ chồng “canh trinh tiết” và không có quyền gặp lại bạn gái hay gia đình,… Sau bốn năm kể từ ngày người mẹ đi hỏi vợ, anh chồng mới trở về. Rồi anh lại tiếp tục ra trận cho đến khi bị một viên đạn găm sau gáy phải nằm liệt giường.

Lấy chồng mười năm nhưng chị chưa bao giờ được tâm sự điều gì với chồng. Mối quan hệ giữa chị với chồng như mối quan hệ chủ tớ, người chồng ban phát tình yêu, bố thí tình cảm và người vợ chỉ được nhận, không được quyền đòi hỏi. Nếu chị nói lên những mong muốn của mình, chị sẽ bị khinh miệt, bị mắng và thậm chí bị đánh đập tàn nhẫn. Mười năm lấy nhau nhưng chị chỉ có ba tuần được tâm sự với chồng. Đó là lúc người chồng đang sống đời sống thực vật. “Vậy là đã mười năm chúng ta cưới nhau. Mười năm! Và chỉ mới ba tuần nay cuối cùng em đã tâm sự đôi điều với anh”.

Ngay từ lời đề tựa, Atiq Rahimi trích dẫn câu nói của Antonin Artaud: “Từ thể xác qua thể xác cùng thể xác đến thể xác”. Tác phẩm không chỉ nói đến thân xác của người chồng sau khi bị một viên đạn găm vào gáy và bất tỉnh, sống đời thực vật không có tiếng nói, không cử động mà ngay từ lúc còn sống, anh ta cũng chẳng khác gì cái xác vô hồn. Anh đi biền biệt mấy năm trời vì cuộc chiến tranh phi nghĩa, trở về, lần đầu gặp vợ, anh cũng không biểu lộ một chút tình cảm nào “không một lời nói, không một cái nhìn”. Lần đầu tiên của hai người diễn ra trong im lặng, vụng về và hụt hẫng. Chỉ khi anh nằm bất động, chị mới có thể nói với anh mọi điều mà không bị ngắt lời, không bị mắng. Người chồng, người cha trong xã hội Afghanistan lúc bấy giờ như một thế lực có quyền năng tối thượng. Tất cả phụ nữ phải phục tùng mà không được phép đòi hỏi. Chính văn hóa hà khắc đó mà những người phụ nữ phải sống một cuộc đời khép kín, cam chịu và đầy bất hạnh.

Chiến tranh chia lìa chị và chồng, còn khiến chồng chị trở thành cái xác không hồn. Trong hoàn cảnh loạn lạc đó, một mình chị phải đứng ra chăm sóc người chồng bất động cùng hai đứa con gái nhỏ mà không có họ hàng, anh em, gia đình bên cạnh. Chị phải tự tìm cách vượt qua khó khăn và cả nỗi sợ hãi. “Anh có biết…gia đình anh, trước khi họ rời bỏ thành phố, đã nói gì với em? Rằng họ không thể lo cho vợ anh lẫn các con anh…anh phải biết: họ đã bỏ rơi anh”.

Chị cần nguyện mỗi ngày, lần tràng hạt liên tục, gọi đấng Allah thường xuyên nhưng tất cả trở nên vô vọng. Chị hi vọng rồi lại tuyệt vọng, chị đau khổ, chị muốn bỏ chồng, phải chi có một viên đạn lạc kết liễu chồng chị, phải chi anh chết khi viên đạn găm và gáy. Nhưng chị yêu chồng, một thứ tình yêu như tôn giáo, chị tôn thờ chồng và cần mẫn chăm sóc anh mỗi giờ, đến nỗi chị tính thời gian bằng hơi thở của anh. “Đã mười sáu ngày em sống theo nhịp thở của anh (…) Và ngay cả khi ở bên cạnh anh, em cũng thở cùng nhịp với anh”.

Những khát khao dục vọng, những ẩn ức bị kìm nén, cả những tiếng kêu xé lòng đòi quyền làm người, được phép yêu thương dày vò tấm thân người phụ nữ trong xã hội Afghanistan lúc bấy giờ. Phụ nữ chỉ là công cụ của những người đàn ông, họ phải che mặt, phải giữ gìn trinh tiết và phục vụ chồng mình mà không được quyền lên cất tiếng nói. Nếu chẳng may bị vô sinh thì họ chẳng còn giá trị nào nữa và trở thành món hàng mua vui cho những người đàn ông khác. Tiết hạnh, máu trinh trở thành một thứ gì đó vô cùng quan trọng và đó là thước đo một người phụ nữ. Máu trinh trở thành một thứ tôn giáo quái gở mà xã hội tôn thờ và kìm kẹp những người phụ nữ.

Bên cạnh nhân vật chính, nhân vật bà cô cũng để lại cho người đọc nhiều suy nghĩ về số phận những người phụ nữ trong xã hội đầy rẫy bất công về giới. Người đàn bà ấy bị vô sinh và ngay lập tức trở nên vô dụng trong mắt chồng và gia đình chồng, trở thành công cụ mua vui cho bố chồng và các anh, em chồng. “Hai năm lấy nhau mà cô em không sinh được con cho ông ta (…) Chồng bà bèn gửi về nhà bố mẹ ông ấy ở tỉnh lẻ để phục vụ họ. Bởi bà vô sinh và đẹp, bố chồng bà có thể tha hồ ngủ với bà, tuyệt đối an toàn. Cả ngày lẫn đêm”. Xã hội lúc bấy giờ mặc định phụ nữ là phải phục tùng và nếu người phụ nữ chẳng may bị vô sinh thì chẳng có ai bênh vực cho họ, kể cả cha mẹ ruột.

Chồng chị, hay nói đúng hơn, nhẫn thạch là thượng đế của chị. “Hãy nhìn lại chính anh, anh là Thượng Đế. Anh tồn tại mà anh không cử động. Anh nghe mà mà không nói. Anh thấy mà anh vô hình. Như Thượng Đế, anh kiên nhẫn, tê liệt. Và em, em là sứ giả của anh! Đấng tiên tri của anh! Em là giọng nói của anh! Em là đôi bàn tay anh! Em khải thị anh!”. Chỉ có tâm sự với nhẫn thạch, chị mới thấy nhẹ lòng, mới thấy đời mình được cứu vớt.

Chị tâm sự tất cả những bí mật thầm kín với chồng, từ chuyện chị cố tình để cho con mèo ăn con chim cút của bố cho đến việc im lặng khi đến tháng. Bởi chị hiểu, nếu đêm động phòng không sự xuất hiện của máu, chuyện khủng khiếp sẽ xảy ra, rất có thể chị sẽ bị chồng và gia đình nhà chồng “giết chết”. Chị tự hỏi “Em chẳng bao giờ hiểu được tại sao ở các anh, đàn ông các anh, lòng tự hào lại gắn chặt đến thế với máu. Máu trở thành thước đo tiết hạnh của người phụ nữ. Cả đàn ông và đàn bà đều ám ảnh với nó dù “máu tháng với máu sạch thì có khác gì nhau”. Chồng bị vô sinh nhưng tất cả mọi tội lỗi đều dành cho chị, chính chị bị vô sinh chứ không một ai khác. Nếu không có con, chị sẽ giống như cô của mình, trở thành món hàng mua vui cho bố chồng và cuối cùng bị đẩy ra nhà thổ. Chị sợ và quyết định giấu chồng có con với những người đàn ông khác. Chị làm điều đó trong tội lỗi và ê chề. Chị đã bị ám ảnh với những giấc mơ mộng mị một thời gian dài. Nhưng chị không còn cách nào khác. Nói đúng hơn những người phụ nữ Afghanistan trong giai đoạn này không còn cách nào khác. Họ buộc phải hành động như vậy nếu không muốn bị xã hội chê trách, ruồng bỏ. Đó không phải vấn đề của họ, của dân tộc họ mà đó là vấn đề của cả nhân loại khi mà quyền sống, quyền làm người, quyền của một người phụ nữ không được trọn vẹn, không được thực thi.

Người phụ nữ miệt mài trao gửi những bí mật khủng khiếp nhất của cuộc đời mình và mong chờ sự giải thoát từ nhẫn thạch. Trong tâm thức của chị, những tội lỗi hiện hữu bằng những giấc mơ và nó dày vò chị. “Giấc mơ ấy trở lại với em hằng đêm khi em có thai đứa con gái đầu (…) bảo rằng nó biết bí mật lớn của em (…) dần dần giấc mơ ấy luồn vào cả những lúc em đang thức … em nghe thấy tiếng nói của đứa bé trong bụng em”. Cả những ám ảnh tính dục, những ức chế dục vọng chị cũng giải tỏa với nhẫn thạch của mình. Chồng chị không hề hay biết những điều đó, có thể chính anh cũng lo sợ và ám ảnh nhưng thể diện của một người đàn ông không cho phép họ bộc lộ. Còn chị, chị lặng lẽ sống như một cái bóng bên cạnh người chồng của mình. Để rồi chị thốt lên chua xót “Đừng bao giờ trông đợi gì ở kẻ đã biết đến niềm thích thú của súng đạn”.

Nhẫn thạch của Atiq Rahimi cũng có thể coi là tác phẩm đứng về phía phụ nữ để đòi quyền lợi cho họ, mặc dù tác giả là nam giới. Tác giả đã góp một tiếng nói đấu tranh nữ quyền thông qua tác phẩm văn học, không dài, không gay gắt nhưng hiệu quả và đầy ám ảnh.

Người phụ nữ Hồi giáo bị bắt buộc phải che mặt, không được bày tỏ quan điểm cá nhân cũng như những khát vọng chính đáng. Họ phải sống một cuộc đời phụ thuộc trong câm lặng, nếu phản kháng, hình phạt dành cho họ vô cùng khủng khiếp. Trong Nhẫn thạch, Atiq Rahimi đã để người phụ nữ được cất tiếng nói, dù rằng đó là tiếng nói rì rầm, dành riêng cho nhẫn thạch. Từ những lời tâm sự của người phụ nữ không tên không tuổi ấy, tất cả góc khuất của xã hội Afghanistan hiện lên rõ rệt, trong đó số phận của người phụ nữ sống ở thời hiện đại nhưng không khác gì thời trung cổ, khi họ không được quyền bộc lộ quan điểm cá nhân và chịu sự chi phối của nam quyền. Có thể nói sự vùng dậy của nhân vật người đàn bà trong Nhẫn thạch được xem như một sự chấn động dữ dội. Nhưng liệu người phụ nữ ấy có được giải thoát khi kể hết tất cả bí mật và những điều thầm kín cho người chồng – nhẫn thạch của mình – khi mà họ bị bao vây, kìm kẹp bởi định kiến xã hội, những ràng buộc tôn giáo và bởi cả chiến tranh.

Nhà văn để cho nhân vật người đàn bà kể lại câu chuyện của đời mình, chỉ có độc thoại, bởi người chồng – nhẫn thạch của chị – không thể cất tiếng nói. Bằng giọng nói đều đều, khô khốc, những lời độc thoại ấy như tiếng kêu cứu, như tiếng nói tranh biện tại phiên tòa lương tri. Người phụ nữ không chỉ kể về số phận của mình mà còn kể về số phận của những người phụ nữ giống như chị: bị kìm kẹp và chết dần chết mòn sống trong một xã hội có quá nhiều hủ tục ràng buộc. Chị kể hết nỗi lòng mình, từ những mong muốn hạnh phúc bình dị nhất cho đến những khát khao giải tỏa ẩn ức tình dục. Chị không hạnh phúc, chị sống mà như đã chết. Chồng chị nằm một chỗ như một cái xác không hồn. Chỉ khi được kể hết những suy nghĩ thầm kín, những ước mong của mình, chị mới thực sự hồi sinh. “Nhẫn thạch” của chị nổ tung, chị được giải thoát nhưng với một cách quá đau đớn.

Người phụ nữ trong Nhẫn thạch may mắn tìm được cho mình hòn đá ma thuật và chị trút vào đó những nỗi niềm của mình. Cuối cùng hòn đá – người chồng vùng dậy và vặn cổ vợ mình, còn “người đàn ông, con dao cắm ngay tim, đến nằm dài trên tấm thảm len ở chân tường, đối diện tấm ảnh của anh”. Kết thúc câu chuyện nhẫn thạch nổ tung, người phụ nữ tưởng chừng được giải thoát nhưng còn gì đó ám ảnh, day dứt người đọc. Chúng ta bất ngờ khi tiếp cận một vùng văn hóa mới lạ có nhiều điều bí ẩn, dù quan niệm về tiết hạnh của người phụ nữ rất giống chúng ta ở giai đoạn phong kiến.

Tác giả không đặt tên cho nhân vật của mình, chỉ gọi nhân vật là người đàn bà. Người đàn bà nói chung của thế giới này, đâu đó ở Afghanistan hay một nơi nào khác, cần phải được hạnh phúc, được nói lên tiếng nói của mình. Tác phẩm, vô hình trung trở thành diễn ngôn của nữ quyền, là bài ca tôn vinh cuộc chiến dành tự do của người phụ nữ. Trong tác phẩm, tác giả để người vợ kể câu chuyện đời mình với chồng- một người đàn ông vô tri với viên đạn găm sau gáy. Nhưng tác giả cũng đang kể với chúng ta câu chuyện về những người phụ nữ bất hạnh trên thế giới. Phụ nữ phải được sống cuộc đời như họ mong ước.

Nguồn: Say, N. A. ĐỊNH KIẾN GIỚI TRONG TÁC PHẨM NHẪN THẠCH CỦA ATIQ RAHIMI.

Link đọc sách: https://drive.google.com/file/d/1FwnCOUhOa5PFu0MU_0IvAUC__588Kx3Q/view?usp=sharing

SÁCH TRỰC TUYẾN KHAI NGUYÊN

Website: https://sachkhainguyen.com/

Tiệm sách trực tuyến

Địa chỉ: 140/27 Vườn Lài, An Phú Đông, Quận 12, TP. HCM

Điện thoại/zalo: 0767.062.907